Cổng thông tin doanh nghiệp quốc gia giới thiệu với độc giả bài viết của Phó Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp, Tổ phó Tổ biên tập Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa Nguyễn Hoa Cương về quá trình xây dựng Dự thảo Luật

1. Quá trình xây dựng các chính sách hỗ trợ DNN&V tại Việt Nam:

Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNN&V) đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế-xã hội của các quốc gia phát triển và các quốc gia đang phát triển. Ở nhiều nước, sự ghi nhận vai trò của DNN&V và việc ban hành các chính sách hỗ trợ khu vực này đã được thực hiện từ cách đây 50-60 năm.

Tại Việt Nam, Nghị định của Chính phủ số 90/2001/NĐ-CP ban hành ngày 23/11/2001 là văn bản pháp lý đầu tiên đưa ra định nghĩa chính thức về DNN&V và các chính sách trợ giúp của Nhà nước đối với DNN&V. Sau một thời gian triển khai, Chính phủ ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 về trợ giúp phát triển DNN&V thay thế Nghị định số 90/2001/NĐ-CP.

Các văn bản này đã góp phần thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các DNN&V, tháo gỡ khó khăn phát triển sản xuất kinh doanh, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư trong nước, cho cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế trong việc hỗ trợ, hợp tác trợ giúp phát triển DNN&V. Đây cũng là cơ sở pháp lý để xây dựng và triển khai thực hiện các chính sách, chương trình trợ giúp phát triển DNN&V, phát huy tiềm năng và nâng cao vai trò của các DNN&V trong phát triển kinh tế-xã hội quốc gia.

Các Kế hoạch phát triển DNN&V 5 năm giai đoạn 2006-2010 và 2011-2015 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại các Quyết định số 236/2006/QĐ-TTg ngày 23/11/2006 và Quyết định số 1231/2012/QĐ-TTg ngày 7/9/2012. Các Kế hoạch đã đưa ra hệ thống các giải pháp trợ giúp DNN&V tương đối toàn diện và có lộ trình thực hiện cụ thể. Đây là khung pháp lý quan trọng giúp các Bộ, ngành, địa phương và tổ chức hiệp hội doanh nghiệp xây dựng và thực hiện trợ giúp phát triển DNN&V trong phạm vi quản lý và giúp định hướng mục tiêu hỗ trợ DNN&V cho các nhà tài trợ quốc tế.

2. Tiến trình xây dựng Luật Hỗ trợ DNN&V:

Theo chương trình công tác của Quốc hội khoá 14, dự thảo Luật Hỗ trợ DNN&V đã được trình tại kỳ họp thứ 2 (tháng 10/2016) để các Đại biểu Quốc hội xem xét, có ý kiến. Kể từ đó đến nay, cơ quan soạn thảo phối hợp với Uỷ ban Kinh tế Quốc hội, cơ quan chịu trách nhiệm thẩm tra dự án Luật để hoàn chỉnh dự thảo trình tại kỳ họp thứ 3 của Quốc hội khoá 14.

Trên cơ sở ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo Cơ quan chủ trì thẩm tra, Cơ quan soạn thảo phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan nghiên cứu tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật theo hướng bảo đảm phù hợp với chủ trương của Đảng, Nhà nước về đổi mới mô hình tăng trưởng; không vi phạm nguyên tắc thị trường, không vi phạm các điều ước quốc tế; hỗ trợ có chọn lọc, trọng tâm, trọng điểm; bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, tính khả thi trong cân đối nguồn lực để hỗ trợ DNN&V. Cơ quan chủ trì thẩm tra, Cơ quan soạn thảo đã phối hợp tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm xin ý kiến đại biểu Quốc hội, chuyên gia, nhà khoa học, một số hiệp hội doanh nghiệp; gửi văn bản lấy ý kiến các bộ, ngành hữu quan. Dự thảo Luật đã được gửi xin ý kiến các Đoàn ĐBQH (ngày 21/3/2017), được thảo luận tại Hội nghị ĐBQH chuyên trách (ngày 5/4/2017), Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã cho ý kiến về dự án Luật tại hai phiên họp (ngày 09/1/2017 và ngày 17/4/2017).

Tại kỳ họp thứ 3 của Quốc hội, ngày 23/5/2017, Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế Quốc hội Vũ Hồng Thanh thay mặt Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã trình bày báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật Hỗ trợ DNN&V, đồng thời các Đại biểu quốc hội đã phát biểu ý kiến tiếp tục góp ý đối với dự thảo Luật; sau đó, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng đã phát biểu giải trình một số vấn đề được nêu trong các ý kiến góp ý của các Đại biểu quốc hội. Trong thời gian này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Uỷ ban Kinh tế Quốc hội để hoàn chỉnh dự thảo theo các ý kiến góp ý trước khi trình Quốc hội ấn nút thông qua dự kiến vào ngày 12/6/2017.

3. Quá trình tiếp thu các ý kiến trước kỳ họp thứ ba của Quốc hội:

3.1. Đối với các vấn đề chung, việc tiếp thu ý kiến và thể hiện trong dự thảo Luật được thể hiện như sau:

 Về quan điểm xây dựng Luật

 Luật Hỗ trợ DNN&V được xây dựng theo quan điểm hỗ trợ theo quy mô mà đối tượng áp dụng là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa. Dự thảo Luật thiết kế theo hướng những nội dung hỗ trợ doanh nghiệp mà các luật khác đã quy định thì Luật này chỉ quy định nguyên tắc chung hoặc dẫn chiếu để bảo đảm thống nhất trong hệ thống pháp luật. Một số quy định trong Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNN&V đã ổn định, được đánh giá phù hợp sẽ được luật hóa tối đa trong Luật này. Do vậy, nội dung của Luật mang tính khung chính sách và để triển khai thực hiện sẽ cần tiếp tục quy định cụ thể hoá trong văn bản hướng dẫn thi hành. Tham khảo kinh nghiệm của một số nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, pháp luật các nước này cũng quy định theo xu hướng như vậy[1].Đối với Việt Nam, lần đầu tiên ban hành luật hỗ trợ cho sự phát triển của DNN&V, không thể quy định cụ thể toàn bộ nội dung hỗ trợ DNN&V mà cần phải có các văn bản hướng dẫn dưới luật. Trong điều kiện cho phép có thể từng bước pháp điển hóa những văn bản này như kinh nghiệm của các nước.

 Theo đó, quy định các nội dung hỗ trợ gồm:

(i) Hỗ trợ chung cho các DNN&V là những hỗ trợ thiết yếu đối với tất cả các DNN&V như hỗ trợ tiếp cận vốn từ các ngân hàng, thuế, thuê mặt bằng sản xuất trong các khu, cụm công nghiệp, đào tạo, thông tin, tư vấn, pháp lý…

(ii) Hỗ trợ cho một số đối tượng trọng tâm có tính chọn lọc, trọng điểm theo định hướng chuyển đổi mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và tự chủ của nền kinh tế, chỉ giới hạn đối tượng là DNN&V được thành lập trên cơ sở chuyển đổi từ hộ kinh doanh, DNN&V khởi nghiệp sáng tạo và DNN&V tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị.

 Về tính khả thi, tính cụ thể và nguồn lực thực hiện

Dự thảo Luật còn 7 điều giao Chính phủ quy định chi tiết, như về tiêu chí xác định DNN&V thuộc diện được hưởng hỗ trợ, 3 nội dung quy định về mục tiêu, nguyên tắc hoạt động của 3 quỹ… là nhằm bảo đảm linh hoạt phù hợp với điều kiện và tình hình thực tế từng thời kỳ. Luật chỉ đưa ra những quy định khung và nguyên tắc để làm cơ sở cho Chính phủ quy định chi tiết. Để bảo đảm Luật có thể sớm đi vào cuộc sống, theo yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, toàn bộ những nội dung này đã được quy định cụ thể trong dự thảo 04 Nghị định hướng dẫn Luật trình kèm theo gồm: (i) Nghị định hướng dẫn một số điều của Luật Hỗ trợ DNN&V, (ii) Nghị định về tổ chức và hoạt động của Quỹ phát triển DNN&V, (iii) Nghị định về tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, (iv) Nghị định về quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNN&V.

Đồng thời, Điều 34 dự thảo Luật quy định 02 nội dung sửa đổi, bổ sung trong Luật Đầu tư. Riêng các luật về thuế, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ đề nghị Chính phủ trình Quốc hội bổ sung việc sửa đổi các nội dung liên quan đến hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của Luật này vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2018.

Mặt khác, để bảo đảm tính khả thi trong khả năng nguồn lực có hạn, dự thảo Luật đã tiếp thu, bổ sung quy định về tiêu chí DNN&V sẽ thu hẹp đối tượng DNN&V được hỗ trợ theo Luật này; đối với các đối tượng có trọng tâm cũng đã quy định rõ hơn về đối tượng, điều kiện, nội dung hỗ trợ; làm rõ chủ thể thực hiện hỗ trợ và quy định cụ thể trách nhiệm của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương cũng như một số tổ chức tham gia hỗ trợ DNN&V.    

 Để bảo đảm thống nhất trong hệ thống pháp luật, Luật này chỉ nêu nguyên tắc, nội dung hỗ trợ DNN&V, việc hỗ trợ cụ thể sẽ do các luật khác quy định. So với dự thảo Luật đã trình Quốc hội, dự thảo Luật lần này đã tiếp thu bỏ các quy định liên quan có thể dẫn đến mâu thuẫn, chồng chéo hoặc phải sửa đổi, bổ sung các luật khác như Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đất đai, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Đấu thầu, các luật về khoa học công nghệ...

3.2. Đối với một số vấn đề cụ thể, việc tiếp thu ý kiến và thể hiện trong dự thảo Luật được thể hiện như sau:

Về đối tượng áp dụng

 Đối với hỗ trợ chung, tất cả các DNN&V được hỗ trợ khi đáp ứng các điều kiện, riêng với hỗ trợ mặt bằng sản xuất là hỗ trợ có sử dụng nguồn lực trực tiếp và phải dựa trên điều kiện cân đối ngân sách của từng địa phương, do đó cần quy định hạn chế đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ này. Dự thảo Luật đã tiếp thu nhưng không quy định tại Điều 2 mà bổ sung Điều 11 quy định DNN&V có vốn đầu tư nước ngoài, DNN&V có vốn nhà nước không được áp dụng hỗ trợ về mặt bằng sản xuất. Quy định như vậy vừa không vi phạm việc hạn chế quyền của tổ chức, cá nhân theo quy định của Hiến pháp, các quy định của các cam kết quốc tế về phân biệt đối xử, vừa thu hẹp đối tượng áp dụng nhằm tập trung nguồn lực để chính quyền địa phương dành cho DNN&V tư nhân trên địa bàn.   

 Về tiêu chí xác định DNN&V

Dự thảo Luật bỏ bảng xác định, phân loại DNN&V; bổ sung tiêu chí doanh thu và áp dụng đồng thời tiêu chí về lao động và tiêu chí về tài chính (doanh thu hoặc tổng nguồn vốn); chỉnh sửa theo hướng quy định tiêu chí trần để xác định DNN&V. Việc quy định số lao động 200 người cũng được tham khảo theo tiêu chí hướng dẫn của Chương trình phát triển Liên hiệp quốc UNDP[2]. Việc bổ sung tiêu chí lao động tham gia BHXH không chỉ thu hẹp đối tượng mà còn thể hiện đúng nguyên tắc Nhà nước chỉ hỗ trợ DNN&V tuân thủ các quy định pháp luật, góp phần để DNN&V tuân thủ pháp luật về BHXH.

Dự thảo Luật cũng giao Chính phủ quy định chi tiết việc xác định doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa trong từng ngành, lĩnh vực phù hợp trong từng thời kỳ để tạo sự ổn định của Luật; trong Nghị định sẽ hướng dẫn chi tiết việc xác định tiêu chí đóng bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp, khắc phục được trường hợp lợi dụng nêu trên.

 Về hỗ trợ tiếp cận tín dụng

Dự thảo Luật đã tiếp thu bỏ các quy định mang tính áp đặt, can thiệp trực tiếp đến hoạt động của hệ thống ngân hàng, không phù hợp nguyên tắc thị trường, cụ thể là bỏ quy định về cung cấp khoản vay với lãi suất và thời hạn vay vốn phù hợp với khả năng thanh toán của DNN&V và tình hình tài chính của ngân hàng; điều chỉnh quy định trong từng thời kỳ, Chính phủ sử dụng ngân sách nhà nước thực hiện cấp bù lãi suất để hỗ trợ DNN&V khởi nghiệp sáng tạo, DNN&V tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị.

Dự thảo Luật quy định: Trong từng thời kỳ, Chính phủ quyết định chính sách hỗ trợ các tổ chức tín dụng tăng cho vay đối với DNN&V; bổ sung quy định các tổ chức tín dụng cho vay đối với DNN&V dựa trên xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp và biện pháp phù hợp khác. Bên cạnh đó, dự thảo Luật bổ sung quy định khuyến khích thành lập các tổ chức tư vấn độc lập để xếp hạng tín nhiệm DNN&V. 

Để từng bước hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp, dự thảo Luật đã bổ sung giao trách nhiệm cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư làm đầu mối phối hợp với Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và bộ, cơ quan ngang bộ xây dựng hệ thống thông tin phục vụ xếp hạng tín nhiệm DNN&V.

Đồng thời, trên thực tế DNN&V thường khó tiếp cận vốn vay từ các ngân hàng vì năng lực quản trị hạn chế; tài sản bảo đảm ít, phương án, dự án kinh doanh, vay vốn xây dựng không bài bản; hệ thống sổ sách tài chính, kế toán thiếu minh bạch; tiềm lực tài chính yếu; dễ bị rủi ro. Do vậy, bổ sung quy định DNN&V được hỗ trợ nâng cao năng lực tiếp cận tín dụng thông qua các cơ quan, tổ chức và cá nhân hỗ trợ DNN&V để xây dựng phương án sản xuất kinh doanh khả thi, tăng cường năng lực quản trị, minh bạch hoạt động của doanh nghiệp để nâng cao năng lực tiếp cận tín dụng.

 Về các quỹ

Dự thảo Luật bỏ quy định về Quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo tại địa phương. Hiện nay, dự thảo Luật chỉ quy định về ba quỹ, trong đó có hai quỹ đã được thành lập và hoạt động[3]. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của hai Quỹ này còn hạn chế, vì vậy cần kiện toàn tổ chức và mô hình hoạt động để hỗ trợ DNN&V hiệu quả hơn, cụ thể như sau:

- Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNN&V: Đến nay đã có 27 quỹ được thành lập tại các địa phương, tuy nhiên hiệu quả hoạt động chưa cao[4]. Dự thảo Luật đã tiếp thu, quy định một số nguyên tắc về tổ chức, hoạt động của Quỹ bảo đảm Quỹ có thể huy động được các nguồn lực ngoài ngân sách, đồng thời hoạt động kinh doanh có hiệu quả trong việc hỗ trợ các DNN&V tiếp cận được các nguồn vốn chính thức của các tổ chức tín dụng. Chính phủ đã giao Bộ Tài chính xây dựng dự thảo Nghị định hướng dẫn kèm theo dự thảo Luật.

- Quỹ phát triển DNN&V: Quỹ này được thành lập năm 2013 và thực hiện cho vay DNN&V đáp ứng tôn chỉ mục đích của Quỹ. Tuy nhiên, mô hình hoạt động của Quỹ còn mới, chưa có khung pháp lý cụ thể, quy định rõ ràng, đến nay Quỹ mới thực hiện cho vay được rất ít[5]. Với nguồn lực nhà nước có hạn và hướng tới sẽ hỗ trợ cho một số DNN&V trọng tâm, trọng điểm, dự thảo Luật đã điều chỉnh hoạt động của Quỹ theo hướng đối với các nguồn vốn từ ngân sách nhà nước cấp cho Quỹ hoạt động sẽ tập trung hỗ trợ các DNN&V khởi nghiệp sáng tạo, DNN&V tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị; đối với các nguồn vốn tiếp nhận, tài trợ, viện trợ, đóng góp, ủy thác của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thì sẽ hỗ trợ các DNN&V đáp ứng các điều kiện của Quỹ phù hợp pháp luật Việt Nam.

- Quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo: Để đạt được mục tiêu đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, Nhà nước cần có chính sách khuyến khích đầu tư vào các ngành nghề lĩnh vực mới, dựa trên tri thức và đổi mới sáng tạo. Do đó, rất cần tạo ra khung pháp lý để khuyến khích các nguồn vốn chủ yếu của xã hội và tư nhân đầu tư cho các lĩnh vực này. Dự thảo Luật quy định về Quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo. Đây là quỹ mới, thực chất là quỹ rủi ro mạo hiểm đã hoạt động thành công ở nhiều quốc gia trên thế giới. Việc thành lập quỹ này có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Dự thảo Luật quy định mang tính nguyên tắc, tạo hành lang pháp lý để thực hiện chủ trương xã hội hóa nguồn lực hỗ trợ DNN&V, Quỹ này tập trung hỗ trợ DNN&V khởi nghiệp sáng tạo. Quy định của dự thảo Luật nhằm công nhận và khuyến khích khu vực tư nhân góp vốn hợp pháp thành lập Quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo của tư nhân để đầu tư, tài trợ cho các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân khởi nghiệp sáng tạo. Căn cứ khả năng ngân sách, vốn đầu tư từ nguồn ngân sách địa phương không quá 30% tổng vốn đầu tư vào doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.

 Về hỗ trợ thuế, kế toán

Thuế thu nhập doanh nghiệp đối với DNN&V tại khoản 1 Điều 10 của dự thảo Luật, theo đó DNN&V được áp dụng có thời hạn mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn mức thuế suất thông thường áp dụng cho doanh nghiệp; bổ sung quy định doanh nghiệp siêu nhỏ được thực hiện chế độ kế toán và các thủ tục hành chính thuế đơn giản tại khoản 2 Điều 10. Tuy nhiên dự thảo Luật không quy định cụ thể về mức thuế, đối tượng và thời hạn cụ thể hỗ trợ thuế, thủ tục thuế và chế độ kế toán (giãn tần xuất kê khai thuế, mẫu kê khai đơn giản, liên thông tư vấn thuế và đại lý thuế…), mà chỉ tạo cơ sở pháp lý với những nguyên tắc chung để tiếp tục sửa đổi, bổ sung trong các luật liên quan nhằm bảo đảm nguyên tắc thống nhất, đồng bộ trong pháp luật chuyên ngành về thuế, kế toán.

Dự thảo Luật quy định DNN&V được hỗ trợ thuế thu nhập doanh nghiệp, như vậy chỉ các doanh nghiệp có lợi nhuận mới được hưởng lợi trực tiếp từ quy định này và theo số liệu thống kê thực tế thì không phải toàn bộ DNN&V mà chỉ có khoảng 50% được hưởng chính sách này[6]. Từ góc độ phát triển và nuôi dưỡng nguồn thu, việc giảm mức thuế suất thuế TNDN với DNN&V là biện pháp hợp lý để nâng cao năng lực tài chính, khả năng sinh lời của các DNN&V và qua đó nâng cao tính bền vững và mức thu của nguồn thu thuế thu nhập doanh nghiệp trong dài hạn[7].

 Về hỗ trợ mặt bằng sản xuất

Do doanh nghiệp, nhà đầu tư kinh doanh hạ tầng khu, cụm công nghiệp là doanh nghiệp lớn, đã được hưởng chính sách ưu đãi đầu tư, nên đã bỏ quy định về hỗ trợ thuế TNDN đối với nhóm doanh nghiệp này để tránh hỗ trợ trùng.

Dự thảo Luật đã tiếp thu, bổ sung quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định hỗ trợ giá thuê mặt bằng cho các DNN&V tại các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp trên địa bàn. Việc hỗ trợ được thực hiện thông qua việc nhà đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp giảm giá cho thuê mặt bằng đối với DNN&V và số tiền giảm giá được trừ vào số tiền thuê đất hoặc từ nguồn hỗ trợ của ngân sách địa phương. Quy định như dự thảo Luật là nguyên tắc để tạo cơ chế cho cơ quan có thẩm quyền cấp tỉnh căn cứ điều kiện của địa phương quyết định hỗ trợ các DNN&V trên địa bàn nhưng hỗ trợ này cũng có thời hạn tối đa 05 năm, thời hạn cụ thể do địa phương quyết định trong khả năng cân đối ngân sách của mình.

Để các DNN&V vào được khu công nghiệp, khu công nghệ cao thì cần điều chỉnh chia nhỏ diện tích cho thuê, đầu tư thêm chi phí xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng phù hợp. Tuy nhiên, tỷ lệ lấp đầy trong các khu công nghiệp, khu công nghệ cao mới chiếm khoảng 50%. Việc tạo cơ chế linh hoạt cho DNN&V vào khu công nghiệp, khu công nghệ cao không phải là quy định bắt buộc, nhưng nếu được thực hiện sẽ mang lại lợi ích cho cả hai bên.

           Về hỗ trợ mở rộng thị trường

DNN&V rất cần được hỗ trợ để cạnh tranh, tồn tại và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm. Với năng lực và quy mô hạn chế, các DNN&V trong nước gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm và tiêu thụ sản phẩm ngay tại thị trường nội địa do nhiều doanh nghiệp lớn nước ngoài đang cạnh tranh quyết liệt mở rộng kênh phân phối bán buôn, bán lẻ theo chuỗi. Do đó, quy định như dự thảo Luật nhằm tạo cơ sở pháp lý hỗ trợ một số doanh nghiệp trong nước có tiềm lực, kinh nghiệm kinh doanh chuỗi bán buôn, bán lẻ hình thành, mở rộng và phát triển chuỗi phân phối sản phẩm để thúc đẩy sản xuất trong nước và khuyến khích tiêu thụ hàng hoá của DNN&V tại thị trường nội địa.

Dự thảo Luật cũng tiếp thu, bổ sung quy định điều kiện có ít nhất 80% DNN&V tham gia cung ứng cho chuỗi và nội dung các hỗ trợ; đồng thời quy định các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập hoặc tham gia thành lập chuỗi phân phối sản phẩm theo hình thức đối tác công tư theo quy định của pháp luật và giao Bộ Công Thương có trách nhiệm hướng dẫn hỗ trợ DNN&V tham gia chuỗi phân phối sản phẩm. Tạo điều kiện cho DNN&V tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách.

 Về hỗ trợ DNN&V khởi nghiệp sáng tạo

Thực tế nước ta cũng như kinh nghiệm một số nước đã có những doanh nghiệp, cá nhân có ý tưởng độc đáo, đang trong quá trình thử nghiệm sản phẩm, dịch vụ mới, có khả năng tạo ra giá trị cao khi thành công như phần mềm công nghệ, rô bốt thông minh, xe ô tô tự lái, tàu ngầm mini, lò đốt rác nhiệt độ cao…Dự thảo Luật đã tiếp thu, bổ sung quy định về hướng dẫn các DNN&V khởi nghiệp sáng tạo thử nghiệm, hoàn thiện sản phẩm mới, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới tại khoản 2 Điều 17.

4. Các nội dung cơ bản của dự thảo Luật Hỗ trợ DNN&V được trình tại kỳ họp thứ 3:

Trên cơ sở tiếp thu các ý kiến đóng góp trước kỳ họp thứ 3 của Quốc hội khoá 14, dự thảo trình Quốc hội trong kỳ họp lần này (tháng 5/2017) đã được rà soát, chỉnh sử lại baogồm 4 chương với 36 điều, cụ thể như sau:

Chương I. Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 7)

Tại chương này quy định phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, tiêu chí xác định DNN&V, các nguyên tắc hỗ trợ, nguồn vốn hỗ trợ DNN&V, các hành vi bị nghiêm cấm trong hỗ trợ DNN&V.

Chương II. Nội dung hỗ trợDNN&V(từ Điều 8 đến Điều 20)

Chương này gồm hai mục, mục 1 quy định về nội dung hỗ trợ hỗ trợ cơ bản cho DNN&V, bao gồm: tín dụng, thuế, kế toán, mặt bằng sản xuất, công nghệ, cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật và khu làm việc chung, xúc tiến và mở rộng thị trường, thông tin, tư vấn và pháp lý, phát triển nguồn nhân lực.

Mục 2 quy định các nội dung hỗ trợ trọng tâm dành cho DNN&V, bao gồm hỗ trợ DNN&V chuyển đổi từ hộ kinh doanh, hỗ trợ DNN&V khởi nghiệp sáng tạo, hỗ trợ DNN&V tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị.

Chương III: trách nhiệm trong hoạt động hỗ trợ DNN&V(từ Điều 21 đến Điều 32)

Chương này quy định trách nhiệm của Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, các Bộ và cơ quan ngang Bộ khác, của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, của các hiệp hội, các tổ chức cung cấp dịch vụ hỗ trợ DNN&V, và của bản thân các DNN&V. Chương III cũng quy định việc công khai hỗ trợ DNN&V, kiểm tra giám sát hỗ trợ DNN&V, đánh giá hỗ trợ và xử lý vi phạm pháp luật trong hỗ trợ DNN&V.

Chương IV: Điều khoản thi hành (từ Điều 33 đến Điều 36)

Dự thảo Luật quy định điều khoản chuyển tiếp về thời điểm có hiệu lực thi hành, đồng thời sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đầu tư.

Như vậy, chỉ còn ít ngày nữa là Quốc hội sẽ biểu quyết thông qua Luật Hỗ trợ DNN&V. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang nỗ lực rất nhiều để phối hợp với Uỷ ban Kinh tế Quốc hội để tiếp thu, giải trình các ý kiến đóng góp của các đại biểu quốc hội, nhằm đưa ra dự thảo trình Quốc hội xem xét. Mong rằng Luật Hỗ trợ DNN&V sẽ sớm được thông qua và đi vào thực tế, đáp ứng được nhu cầu của các DNN&V, đồng thời phát huy hiệu quả cao nhất vai trò và nguồn lực có hạn của Nhà nước để góp phần chung vào phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam./.

                                                                     Nguyễn Hoa Cương

                                            Phó Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp

                                               Tổ phó Tổ biên tập Luật Hỗ trợ DNN&V

 

-------------

1. Hàn Quốc ngoài luật chung về hỗ trợ DNN&V còn có 18 luật liên quan. Ngoài luật cơ bản, Nhật Bản có gần 20 luật khác có liên quan và có khoảng 70-80 chính sách để hỗ trợDNN&V.

2. Tiêu chí lao động xác định DNN&V: theo UNDP, Nam Phi, Úc là không quá 200 lao động, theo WB là không quá 300, thành viên Liên minh Châu Âu và Mexico, Nhật Bản là 250, Mỹ và Canada là không quá 500 người.

3. Quỹ bảo lãnh tín dụng DNN&V và Quỹ phát triển DNN&V.

4. Tính đến ngày 30/6/2016 cả nước có 27 Quỹ BLTD, với tổng vốn điều lệ thực có ước khoảng 1.462 tỷ đồng, trong đó: vốn Ngân sách Nhà nước cấp là 1.318,4 tỷ đồng, vốn góp của các tổ chức, hiệp hội ngành nghề là 143,6 tỷ đồng; hiện nay, Quỹ BLTD có mức vốn điều lệ cao nhất là TP. Hồ Chí Minh 232,355 tỷ đồng và thấp nhất là Bạc Liêu 15 tỷ đồng.

Lũy kế doanh số bảo lãnh của các Quỹ BLTD từ năm 2002 đến 30/6/2016 ước khoảng trên 4.161 tỷ đồng, tổng số dư bảo lãnh khoảng 361 tỷ đồng. Tổng số tiền các Quỹ BLTD đã phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho DNN&V ước khoảng 137,95 tỷ đồng.

Năng lực tài chính của Quỹ BLTD tại các địa phương còn hạn chế, vốn hoạt động bảo lãnh tín dụng thấp, một số Quỹ chưa đáp ứng đủ vốn điều lệ theo quy định của pháp luật hiện hành; quy mô còn nhỏ, số dư trích lập dự phòng rủi ro của Quỹ thấp chưa đảm bảo bù đắp chi phí khi có rủi ro xảy ra, nguồn thu từ phí bảo lãnh thấp không đảm bảo để thực hiện nhiệm vụ, trong khi rủi ro bảo lãnh cao nên hoạt động của Quỹ còn gặp nhiều khó khăn.

5. Tháng 10/2016, Quỹ phát triển DNN&Vhoàn thiện khung pháp lý và chính thức đi vào hoạt động. Vốn điều lệ: 2000 tỷ (Theo Quyết định số 601/QĐ-TTg), Vốn điều lệ được cấp đến thời điểm hiện tại 837,25 tỷ đồng. Số DNN&V tiếp cận tới Quỹ: 1000 DNN&V được hỗ trợ tư vấn về điều kiện, tiêu chí, hồ sơ, thủ tục vay vốn của Quỹ (chưa tính số lượng DN tiếp cận thông tin qua các NHTM nhận ủy thác từ Quỹ). Số DNN&V hoàn thiện đầy đủ hồ sơ (phù hợp các tiêu chí vay vốn từ Quỹ): 100 DNN&V. Tổng nhu cầu vay vốn: trên 600 tỷ đồng.

Tổng số hồ sơ DNN&V đạt yêu cầu do 3 Ngân hàng nhận ủy thác đề nghị Quỹ chấp thuận ủy thác đợt 1 là 20 hồ sơ với tổng nhu cầu vay vốn là khoảng 250 tỷ đồng. Tổng số vốn hỗ trợ thực tế Quỹ đã ủy thác cho ngân hàng để giải ngân cho DNN&V: 110 tỷ đồng.

6. Theo thống kê, số lượng doanh nghiệp đang hoạt động và làm ăn có lãi chiếm khoảng 49,4% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, như vậy ước tính có khoảng 301.300 doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi trực tiếp ngay từ các quy định này. Trong số các doanh nghiệp này có khoảng 4.160 doanh nghiệp vừa, 116.920 doanh nghiệp nhỏ và 173.271 doanh nghiệp siêu nhỏ.

7. Tuy dự thảo Luật không quy định cụ thể mức giảm so với mức thuế suất thuế TNDN hiện hành, nhưng trên cơ sở tính toán giả định về mức giảm đối với với doanh nghiệp vừa là 1%, doanh nghiệp nhỏ là 2% và doanh nghiệp siêu nhỏ là 3% so với mức thuế suất TNDN hiện hành, dự kiến ngân sách nhà nước sẽ giảm thu khoảng 1.920,5 tỷ đồng (giảm thu từ khối các doanh nghiệp vừa khoảng 103 tỷ đồng, doanh nghiệp nhỏ khoảng 1.314 tỷ đồng và doanh nghiệp siêu nhỏ khoảng 502 tỷ đồng).




 


 


 


 


 


 


 


Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article