Làng nghề là nơi hội tụ những tinh hoa văn hóa dân gian được bồi đắp theo bề dày lịch sử, sản sinh và lưu giữ những sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống có hàm lượng văn hóa, tinh thần đặc sắc của dân tộc. Qua 15 năm thành lập, đến nay Hiệp hội Làng nghề Việt Nam đã kết nạp được hơn 13.000 hội viên, trong đó khoảng 30% và đã có mặt tại 61/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Nếu như đầu những năm 2000, cả nước mới có 1.400 làng nghề thì sau 15 năm hiện nay cả nước có hơn 5.400 làng nghề và giải quyết công ăn việc làm cho hơn 11 triệu lao động ở nông thôn. Các sản phẩm làng nghề đã xuất khẩu sang 160 quốc gia và vùng lãnh thổ với kim ngạch xuất khẩu đạt 1,7 tỷ USD/năm. Các làng nghề đã giúp nâng cao thu nhập, cải thiện dời sống của người dân nông thôn, mức sống của người dân cao gấp 3 đến 5 lần mức sống của làng thuần nông, đời sống văn hóa và các sinh hoạt văn hóa cộng đồng được coi trọng và phát triển lành mạnh.

Qua hơn 30 năm đổi mới kinh tế, làng nghề đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội, đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển của đất nước; bảo tồn và phát huy được bản sắc văn hóa của dân tộc, góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Các sản phẩm xuất khẩu của làng nghề đã mang bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần lan tỏa nền văn hóa Việt Nam tới các nước trên thế giới. Trong bối cảnh tình hình kinh tế khu vực và thế giới còn diễn biến phức tạp, xu thế bảo hộ và cạnh tranh ngày càng gay gắt thì những thành tích nêu trên của các hội viên trong Hiệp hội  Làng nghề càng có ý nghĩa to lớn.

Bên cạnh các đóng góp về kinh tế, văn hóa cho đất nước, Hiệp hội Làng nghề Việt Nam cũng đã cố gắng thực hiện vai trò phản biện xã hội, tập hợp rộng rãi ý kiến của hội viên để đóng góp ý kiến xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, các cơ chế, chính sách phát triển làng nghề, xử lý môi trường làng nghề, du lịch làng nghề.

Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định nhưng hiệu quả hoạt động của một số đơn vị trực thuộc Hiệp hội Làng nghề còn chưa cao, chưa có sức lan tỏa rộng lớn, vẫn còn một số tồn tại như:

- Tình trạng ôi nhiễm môi trường: chủ yếu sản xuất qui mô nhỏ, khép kín tự phát, đầu tư trang thiết bị, đổi mới công nghệ hạn chế, dẫn đến năng suất thấp, tiêu tốn nhiều nhiên liệu, thải ra môi trường lượng lớn chất thải đặc biệt là chất thải.

- Thị trường tiêu thụ sản phẩm còn hạn chế: một trong những khó khăn lớn của làng nghề hiện nay là tìm thị trường tiêu thụ, bởi lẽ sản phẩm của làng nghề truyền thống có giá thành cao, mẫu mã sản phẩm chưa đa dạng, chưa theo kịp thị hiếu người tiêu dùng cả trong và ngoài nước. Việc đăng ký thương hiệu hàng hóa và kiểu dáng sản phẩm chưa được quan tâm đầu tư, hỗ trợ.

- Công tác đào tạo nghề: hiện nay các làng nghề đang đứng trước thực trạng thiếu lao động có tay nghề để đáp ứng yêu cầu thẩm mỹ ngày càng cao của người tiêu dùng. Đây là một trong những nguyên nhân khiến sản phẩm các làng nghề truyền thống chưa đa dạng về mẫu mã, thiếu sức cạnh tranh so với sản phẩm cùng loại trong nước và quốc tế.

- Ứng dụng khoa học công nghệ trong làng nghề còn thấp: các làng nghề Việt Nam phần lớn sản xuất thủ công, máy móc thiết bị lạc hậu, chưa có đội ngũ kỹ thuật viên chuyên nghiên cứu, sáng tác cho mẫu mã sản phẩm thủ công có chất lượng cao, hình thức bắt mắt.

Để duy trì, bảo tồn và phát triển trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Hiệp hội Làng nghề Việt Nam cần tập trung một số nội dung sau:

Một là, Hiệp hội cần phát huy hơn nữa vai trò phản biện xã hội, tập hợp sức mạnh đoàn kết, tinh thần sáng tạo của các hội viên, nghệ nhân; đóng góp ý kiến, đề xuất với Đảng, Nhà nước xây dựng những chính sách phù hợp nhằm hỗ trợ cho công cuộc bảo tồn và phát triển Làng nghề truyền thống.

Hai là, Ban Chấp hành Trung ương Hội cần nghiên cứu xây dựng mô hình điểm “Con chim đầu đàn” trong một số làng nghề tiêu biểu như Làng nghề gốm Chu Đậu Hải Dương, Làng Đá mỹ nghệ Non Nước (Đà Nẵng), Làng dệt thổ cẩm Châu Giang (An Giang); qua đó rút kinh nghiệm và nhân rộng tới các hội viên, làng nghề trên cả nước.  

Ba là, các thành viên của Hiệp hội Làng nghề cần tăng cường ứng dụng, áp dụng khoa học kỹ thuật, đưa máy móc thiết bị thay thế lao động thủ công ở những công đoạn máy móc có thể thay thế để giảm thiểu tác động xấu đến môi trường; nâng cao chất lượng, số lượng sản phẩm, đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới.

Bốn là, phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành liên quan đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại; kết nối doanh nghiệp; tích cực tham gia các hội chợ, triển lãm, khai thác và mở rộng thị trường; khuyến khích phát triển các bảo tàng tư nhân tại các làng nghề gắn với phát triển kinh tế văn hóa và du lịch.

Năm là, phát triển cụm công nghiệp làng nghề phù hợp với qui hoạch phát triển Cụm công nghiệp trên địa bàn và cả nước, ưu tiên các ngành công nghiệp sạch, thân thiện với môi trường.

Sáu là, bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống kết hợp với các loại hình du lịch làng nghề, du lịch sinh thái. Tiềm năng du lịch làng nghề ở Việt Nam là rất lớn, song là một lĩnh vực khá mới mẻ cần được quan tâm đầu tư phát triển hơn nữa.

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article